Phong tục Việt Nam

Phong tục Việt Nam/ Hôn nhân

Vợ chồng
Tiếng gọi - Vợ chồng con nhà sang trọng gọi bằng cậu mợ, thầy thông thầy phán thì gọi nhau bằng thầy cô, nhà thường gọi nhau bằng anh chị. Có con rồi thì gọi nhau bằng thầy em, đẻ em, nhà thô tục thì gội nhau bằng bố cu đĩ, có người thì gọi bố nó, mẹ nó, có người cả hai vợ chồng gọi lẫn nhau bằng nhà ta. ở Quảng Nam thì vợ chồng là anh, chồng gọi vợ là em. ở nghệ tĩnh vợ chồng gọi nhau là gấy nhông.

Đạo vợ chồng - Đạo vợ chồng cư sử với nhau, trọng nhất là hai chữ thuận hoà. Tục có câu rằng" thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn "nghĩa là có hoà thuận với nhau thì việc có khó đến đâu, cũng làm nên được. Người chồng lại trọng nhứt là phải giữ nghĩa với vợ, mà vợ thì phải giữ tiết với chồng.
Nghĩa vụ của người vợ - Người vợ trên phải phụng dưỡng cha mẹ chồng, có khi phải nuôi cả chồng; giữa thì giúp chồng lo lắng công việc kia việc khác, gánh vác giang sơn cho nhà chồng; dưới thì chăn sóc nuôi con, thế mới gọi là nội chợ.

Tứ đức - Lại phải đủ cả tứ đức mới gọi là hiền. Tứ đức là : Phụ dung, phụ công, phụ ngôn, phụ hạnh.
Phụ dung: là dáng người đàn bà, dang phải chính đính hoà nhã, nhưng cũng phải chải chuốt cho gọn gàng sạch sẽ.
Phụ công là nghề khéo của người đàn bà, nghề khéo thì chẳng qua trong việc vá may thêu dệt, và biết buôn bán mà thôi, ai giỏi nữa thì biết đủ các việc cầm kỳ thi hoạ là cùng.
Phụ ngôn là lời ăn tiếng nói của người đàn bà, ăn nói phải khoan thai, dịu dàng; đừng câu cẩu mà cũng đừng the thé, quí hồ mềm mỏng cho ai cũng dễ nghe.
Phụ hạnh là nết na người đàn bà, nết na thì đến trên kính, dưới nhường, ở trong nhà chiều chồng thương con, và lấy nết hiền hậu mà ở với anh em họ hàng nhà chồng. Ra ngoài thì nhu mì chín chắn, không hợm hĩnh mà cũng không cay nhiệt với ai.
Ấy là tứ đức, có đủ chừng ấy mới là đáng khen.

Tam tòng - đàn bà lại có tam tòng nữa. Tam tòng là: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử.
Nghĩa là khi người đàn bà còn ở nhà thì theo cha mẹ khi đã lấy chồng thì theo chồng, khi chồng mất thì theo con.
Cho nên tục ta đi lấy chồng thì dù hay, dở, sống, chết thế nào cũng là người nhà chồng, chỉ nương nhờ về chồng con, chớ không ai được nữa. Cũng vì nghĩa ấy mà người đàn bà phải hết lòng hết sức lo cho chồng con, tức là lo cho mình.
Nghĩa vụ của người chồng đối với vợ thì chỉ ở cho đúng đắn, biết thương yêu vợ, biết quý trọng vợ, nhất là có tài trí, khiến cho vợ có được nương nhờ sung sướng là hơn cả.
Thứ nhì là vợ chồng đồng tâm hiệp lực, kẻ lo việc ngoài, người lo việc trong, cho việc gia đình chỉnh đốn đâu ra đấy, mà đừng để khổ sở vất vả riêng cho một mình vợ. Còn người quanh năm chí tối, chỉ trông cậy về vợ thì gọi là người hèn.

Quyền người chồng - Tục ta trong nam khinh nữ, quyền người chồng bao giờ cũng nặng hơn quyền người vợ. Một là tiền của. Tiền của hai vợ chồng làm ra, hoặc của ngơươì chồng hay người vợ làm ra, cũng gọi là của chồng cả. Có câu rằng: "Trai tay không chẳng ăn mày vợ, gái trăm vạn cũng thể nhờ chồng".
Hai là việc giao thiệp. Ta chỉ người đàn ông có quyền giao thiệp với người ngoài, chớ đàn bà thì không được dự gì đến việc nọ việc kia cả. Cho nên từ trong họ, đến ngoài làng, cho đến việc tiếp khách, các việc ứng tiếp xã hội, cũng không việc gì dự đến đàn bà. ta vì tục ấy mà đàn bà ít kiến thức, tựa như một phần người vô dụng ở đời.

Ba là quyền tự do. Ta chỉ người đàn ông được tự do, nghĩa là muốn chơi bời gì thì chơi, muốn đi lại đâu thì lại, người vợ không có quyền ngăn cấm được, mà vợ hơi có điều gì trái gia pháp thì chồng có thể chửi được. Chồng có thể lấy năm bảy vợ , ma vợ chỉ được phép lấy một chồng.

Có câu rằng: "tài trai lấy năm lấy bảy, gái chính chuyên chỉ lấy một chồng". Đây là nói đại khái , chớ quyền gì chồng vẫn hơn.
Thất xuất - Đàn bà ở với chồng, bảy đều nên phải đuổi gọi là xuất thất:
1- Không con
2- Dâm vật
3- Không thờ cha mẹ chồng
4- Lắm điều
5- Trộm cắp
6- Ghen tuông
7- Có ác tật.

Đàn bà lấy chồng trọng nhất là việc nối dõi tông đường, không có con thì chồng phải lấy vợ khác, cho nên phải bỏ. Dâm tật là một nết hư. Không thoè phụng được cha mẹ chồng là bất hiếu. Lắm điều thì chua ngoa khó chịu. Trộm cắp thì có ính gian phi. Ghen tuông thì mất tính hiền hậu. Có ác tật thì không đương nổi việc nhà, và e truyền nhiễm cho người trong nhà chăng.
Các điều ấy cũng khó dung, cho nên phải đuổi.

Tam bất khả xuất - Trong đó có ba điều không được đuổi:
1- Đàn bà từng để tang ba năm nhà chồng
2- Trước nghèo sau giàu
3- Ở nhà chồng thì được mà về nhà mình thì không có chỗ nào nương tựa.

Đàn bà để tang cha mẹ chồng ba năm là đã giúp chồng trong sự báo hiếu ấy rồi, ấy cũng là có công với chồng, nếu bỏ thì chẳng những bạc tình, mà lại là người bất hiếu với cha mẹ nữa. Trước mới lấy ngau thì nghèo, mà sau rồi moei giàu có, thì là dường sinh lý cũng có nhờ giúp đỡ mới nên. Nếu bỏ đi thì là phụ công. Đàn bà chỉ nhờ chồng và nhờ cha mẹ được thôi. Nếu cha mẹ người vợ mất rồi mà đuổi đi thì người ta nương nhờ vào đâu, thế là bất nghĩa, cho nên không đuổi
 

 

Các thông tin khác:

  • Tục lệ cưới xin của dân tộc La Hủ
  • Nghi thức cưới của người Lô Lô
  • Nghi thức hôn lễ của người Chăm An Giang
  • Lễ cưới hỏi của người Dao, Điện Biên
  • Nghi lễ đám cưới của người Nùng, Bắc Kạn
  • Chiếc vòng cầu hôn
  • Lễ cưới của người Mông - Lào Cai
  • Lễ cưới của dân tộc M’nông Preh ở Tây Nguyên
  • Rước Chúa gái - Phong tục hôn lễ thời Hùng Vương
  • Giờ hoàng đạo là gì? Cách chọn giờ hoàng đạo
  • Thế nào là âm dương, ngũ hành?
  • Lễ cưới đã chuẩn bị sẵn vấp phải lễ tang, tính sao đây?
  • Vợ chồng xưng hô với nhau thế nào?
  • Nên nhìn nhận vấn đề ly hôn như thế nào?
  • Quan hệ vợ cả vợ lẽ ra sao?