| ăn xổi ở thì | "Ăn xổi ở thì" là thành ngữ cổ, trong đó "xổi" mang nghĩa vội vàng, tạm bợ (như trong dưa muối xổi - muối nhanh để ăn ngay), còn "thì" nghĩa là lúc, chốc lát, kết hợp lại miêu tả lối sống tạm bợ, được chăng hay chớ, không có kế hoạch lâu dài, chỉ tính đến cái lợi trước mắt mà không nghĩ đến sự bền vững lâu dài. Người Việt xưa vốn coi trọng lối sống thuỷ chung, gắn bó lâu dài theo quan niệm "một đêm nằm, một năm ở", nên rất phê phán, không ưa lối sống tạm bợ, thiếu cam kết này. Ví dụ: "Làm ăn mà ăn xổi ở thì thì khó bền lâu được, phải có tầm nhìn dài hạn mới ổn định." Thành ngữ phê phán lối sống thiếu bền vững, chỉ tính trước mắt. |
| ăn xổi ở thì | "Ăn xổi ở thì", theo cách diễn giải phổ biến hơn, tiếp tục nhấn mạnh vào lối sống thiếu tầm nhìn xa, chỉ biết sống qua ngày, được lúc nào hay lúc ấy mà hoàn toàn không có sự chuẩn bị, tính toán cho những kế hoạch, mục tiêu dài hạn trong tương lai. Câu nói phê phán thái độ sống thụ động, thiếu trách nhiệm với chính cuộc đời và tương lai của bản thân, chỉ chăm chăm giải quyết những nhu cầu trước mắt mà bỏ qua sự phát triển bền vững về lâu dài. Ví dụ: "Cứ sống ăn xổi ở thì mãi thì bao giờ mới có được cuộc sống ổn định, ổn định lâu dài." Thành ngữ nhắc nhở về tầm quan trọng của tư duy dài hạn trong cuộc sống, công việc. |
| ăn xổi ở thì | "Ăn xổi ở thì", theo cách diễn giải thứ ba, mở rộng thêm ý nghĩa sang khía cạnh tình cảm, các mối quan hệ: không chỉ dùng để chỉ lối sống vật chất tạm bợ mà còn có thể áp dụng cho những mối quan hệ thiếu chân thành, thiếu cam kết lâu dài, không đặt nặng tình nghĩa, dễ dàng thay đổi, không gắn bó bền chặt như quan niệm sống thuỷ chung truyền thống của người Việt. Cách hiểu này cho thấy sự linh hoạt trong việc vận dụng thành ngữ vào nhiều ngữ cảnh khác nhau của đời sống, từ vật chất đến tinh thần, tình cảm. Ví dụ: "Yêu đương kiểu ăn xổi ở thì thì khó mà bền lâu, tình cảm cần có sự chân thành, cam kết." Thành ngữ được vận dụng linh hoạt trong nhiều ngữ cảnh cuộc sống. |
Nguồn tham chiếu: Theo Từ điển Thành ngữ & Tục ngữ Việt Nam của GS. Nguyễn Lân – Nxb Văn hóa Thông tin tái bản 2010, có hiệu chỉnh và bổ sung; Từ điển Thành ngữ và Tục Ngữ Việt Nam của tác giả Vũ Thuý Anh, Vũ Quang Hào… | |
Từ điển thành ngữ, tục ngữ,... Việt Nam"... ngôn ngữ của người miền quê, nhất là những cụ già không phải "quê mùa" như trước đây mọi người vẫn tưởng, mà trái lại, rất văn vẻ, có nhiều màu sắc, nhiều hình tượng. Chính là vì trong những câu chuyện hàng ngày, bà con thường sử dụng những thành ngữ, tục ngữ là cái vốn vô cùng phong phú, vô cùng quý giá của tiếng nói dân tộc, được truyền miệng tư đời này sang đời khác." - GS. Nguyễn Lân. Hiểu và vận dụng linh hoạt thành ngữ, tục ngữ và các tình huống cụ thể sẽ giúp chúng ta biết nói đúng và viết đúng, để có thể tiến tới nói hay và viết hay. Sự ra đời của cuốn từ điển này không nằm ngoài mục đích đó. Cuốn sách này sẽ giúp các bạn hiểu hơn nội dung cụ thể của từng thành ngữ, tục ngữ; để trên cơ sở đó, vừa bổ sung kiến thức, vừa vận dụng vào cách nói, cách viết của mình được trong sáng hơn, hiệu quả hơn. Dựa trên nguồn tư liệu phong phú trong thực tế của các tác giả, đây một Phần mềm Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam. Như một cuốn từ điển di động phong phú, đa dạng, có tính năng lưu lại những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ,... |
* Từ tham khảo:
- Anh em chém nhau bằng dọng, ai chém nhau bằng lưỡi
- Anh em cọc chèo
- Anh em gạo, đạo nghĩa tiền
- Anh em hạt máu sẻ đôi
- Anh em khinh trước, làng nước khinh sau